Truy cập nội dung luôn

 

Phụ nữ Bến Tre tiếp tục tăng tốc - tạo bứt phá để an toàn cho phụ nữ và trẻ em

Chi tiết tin



Nghị quyết số 26-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khoá XII về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ
31/07/2018

LƯỢC GHI

Nghị quyết số 26-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khoá XII

về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ

BCV: Phạm Minh Chính

Trưởng ban Tổ chức Trung ương

Đây là NQ chuyên đề của TW nhằm cụ thể hoá nội dung trọng tâm thứ nhất mà NQĐH XII đã đề ra.

I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH NGHỊ QUYẾT (Có 6 lý do):

Thứ nhất, cán bộ và công tác bộ có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng, có ý nghĩa quyết định sự thành bại của cách mạng và sự phát triển của đất nước. Xây dựng đường lối chính trị, hệ thống tổ chức bộ máy và cán bộ là 3 thành tố quan trong; song cán bộ có vai trò quyết định, vì xây dựng đường lối, bộ máy tổ chức cũng do cán bộ. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”, “Bất cứ chính sách, công tác gì nếu có cán bộ tốt thì thành công, tức là có lãi. Không có cán bộ tốt thì hỏng việc, tức là lỗ vốn”. Trong cùng một điều kiện, hoàn cảnh như nhau, nhưng kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị khác nhau là do có đội ngũ cán bộ, trước hết là người đứng đầu.

Thứ hai, sự nghiệp cách mạng của Đảng ta và Nhân dân ta đang chuyển sang một giai đoạn phát triển mới với trình độ cao hơn; công cuộc đổi mới ngày càng đi vào chiều sâu, thực tiễn luôn đặt ra vấn đề mới, nhiệm vụ khó khăn hơn và tính chất ngày càng phức tạp hơn, đã và đang đặt ra những yêu cầu, nhiệm vụ hết sức to lớn, đòi hỏi Đảng ta phải xử lý một cách khoa học, hiệu quả cả về lý luận, cả về thực tiễn:

- Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; phát huy vai trò Nhân dân tham gia xây dựng Đảng.

- Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; đẩy mạnh phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; tích cực chủ động hội nhập sâu rộng.

- Đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới đất nước. Thực hiện thành công Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2020 và 2021-2030; xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội và kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ (Phải giữ được an ninh chính trị, an toàn xã hội, bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống  nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, giữ vững môi trường hoà bình, ổn định trong hoàn cảnh thế giới luôn có những diễn biến mau lẹ, phức tạp, khó lường nhất là tình hình biển Đông).

- Xu thế toàn cầu hoá và sự phát triển nhanh chóng của kinh tế tri thức, cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 tác động thường xuyên, mạnh mẽ nhiều chiều (có cả tích cực và tiêu cực) và biến đổi khí hậu …

Thứ ba, qua 20 năm triển khai thực hiện NQ về công tác cán bộ, đội ngũ cán bộ các cấp trưởng thành và phát triển về nhiều mặt, từng bước đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ của công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Tuy nhiên, đến nay chiến lược cán bộ có một số nội dung không còn phù hợp, cần điều chỉnh cho phù hợp với yêu cầu của thời kỳ mới: Công tác cán bộ đổi mới còn chậm so với đổi mới kinh tế, kinh tế thị trường (tuy có cố gắng làm nhưng chưa tương xứng với sự phát triển); cán bộ đông nhưng chưa mạnh, một bộ phận cán bộ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”. Xuất hiện những điểm mới như vấn đề kiểm soát quyền lực, cơ chế chưa đủ mạnh để kiểm soát quyền lực; tình trạng chạy chức, chạy quyền,... chậm được khắc phục.

Thứ tư, sau hơn 40 năm giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, chúng ta đang đứng trước sự chuyển giao thế hệ, từ lớp cán bộ trưởng thành trong chiến tranh, được đào tạo chủ yếu trong nước và các nước xã hội chủ nghĩa, sang lớp cán bộ được đào tạo ở nhiều quốc gia có thể chế chính trị khác nhau. Để có sự chuyển giao thế hệ một cách suông sẽ, vừa kế thừa phát huy được thành quả của các lớp cha anh đi trước, vừa thích ứng với điều kiện mới, đưa đất nước ta phát triển.        

Thứ năm, luôn luôn phải động viên khích lệ, lan toả những thành tựu đã đạt được sau hơn 30 năm đổi mới, nhưng không chủ quan, thoả mãn, lơ là, nhất là mất cảnh giác với sự chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ của các thế lực thù địch, phản động thông qua chiến lược “diễn biến hoà bình” với những thủ đoạn ngày càng tinh vi, nguy hiểm hơn. Xây dựng đội ngũ cán bộ thắng không kêu, bại không nãn, chủ động tấn công tích cực phòng ngừa, không được say sưa với thành tựu mà lơ là mất cảnh giác, nhất là trong giai đoạn hiện nay. Cần phải tỉnh táo, tư tưởng chính trị vững vàng, lập trường kiên định và hành động quyết liệt, nhưng thật sự khôn khéo để bảo vệ được độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và giữ được môi trường hoà bình.

 Thứ sáu, góp phần cụ thể hoá Nghị quyết Đại hội XII với những điểm mới về công tác cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ và nhiệm vụ đã được xác định trong chương trình làm việc toàn khoá.  

Tình hình đó đòi hỏi phải đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp ngang tầm nhiệm vụ để nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Việc xây dựng, ban hành nghị quyết mới về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ vừa là đòi hỏi khách quan, vừa là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm sự đồng bộ trong việc cụ thể hoá thực hiện NQĐH XII của Đảng, NQTW 4 về xây dựng chỉnh đốn Đảng; NQTW6 về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

II . THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ VÀ CÔNG TÁC CÁN BỘ

1. Đội ngũ cán bộ

1.1. Ưu điểm 

- Đội ngũ cán bộ các cấp đã có bước trưởng thành phát triển về nhiều mặt, chất lượng ngày càng được nâng lên; cơ cấu độ tuổi, giới tính, dân tộc, ngành nghề, lĩnh vực công tác có sự cân đối hợp lý hơn. Số cán bộ có trình độ đại học, sau đại học tăng nhanh. Tính từ năm 2009-2014 thì số người có trình độ đại học và trên đại học tăng gần hai lần (từ 4,4% lên 7,3%). Trình độ năng lực và kinh nghiệm thực tiễn có nhiều tiến bộ. Số lượng cán bộ được quy hoạch khá dồi dào, cơ bản bảo đảm sự chuyển tiếp giữa các thế hệ. Qua các kỳ đại hội, cấp uỷ các cấp đổi mới khoảng 40%, Ban Chấp hành Trung ương đổi mới cao hơn (khoá IX: 42%, khoá X:54,7%; khoá XI: 47%; khoá XII:48%); vượt chỉ tiêu so với NQTW3 khoá VIII.

- Đội ngũ cán bộ có lập trường tư tưởng, bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức, lối sống giản dị, gương mẫu, có ý thức tổ chức kỷ luật, luôn tu dưỡng, rèn luyện, trình độ, năng lực được nâng lên, phấn đấu, hoàn thành nhiệm vụ được giao. Nhiều cán bộ năng động, sáng tạo, thích ứng với xu thế hội nhập, có khả năng làm việc trong môi trường quốc tế.

- Đa số cán bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nước và đoàn thể ở các cấp có năng lực, phẩm chất, uy tín. Cán bộ cấp chiến lược luôn kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có tư duy đổi mới, có tầm nhìn chiến lược, khả năng hoạch định đường lối, chính sách và lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện. (Đội ngũ cán bộ cấp chiến lược hiện nay do Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý có trên 600 đồng chí từ thứ trưởng, pho bí thư tỉnh uỷ và tương đương trở lên, các uỷ viên Trung ương dự khuyết). 

Hầu hết cán bộ lãnh đạo trong lực lượng vũ trang được rèn luyện, thử thách qua thực tiễn, trung thành với Đảng, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì Tổ quốc, vì hạnh phúc nhân dân. Từ sau hoà bình đến nay, nhiều đồng chí đã chiến đấu, hy sinh vì nền độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, nhất là trong tình hình hiện nay, các loại tội phạm tăng nhanh, diễn biến khá phức tạp như tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm công nghệ cao,…  

Nhiều cán bộ khoa học tâm huyết, say mê nghiên cứu, có đóng góp tích cực cho sự phát triển của đất nước trong điều kiện còn nhiều khó khăn. Số công trình công bố quốc tế của Việt Nam 15 năm qua tăng bình quân khoảng17%/năm; đứng thứ tư khu vực (sau Singapore, Malayxia và Thái Lan); vật lý lý thuyết đứng thứ ba khu vực ASEAN, toán học đứng thứ hai khu vực ASEAN; toán tối ưu đứng đầu khu vực ASEAN và đứng thứ 19 thế giới.

Một số cán bộ lãnh đạo, quản lý doanh nghiệp nhà nước thích ứng nhanh với cơ chế thị trường, tổ chức kinh doanh có hiệu quả. Giai đoạn 2010-2017 vốn nhà nước tại doanh nghiệp trong Khối Doanh nghiệp Trung ương đạt trên 1.264 tỷ đồng (tăng 87%); lợi nhuận trước thuế đạt 801 tỷ đồng (12,5%), nộp ngân sách chiếm 26,85%.

1.2. Hạn chế      

- Đội ngũ cán bộ đông nhưng chưa mạnh, tình trạng vừa thừa, vừa thiếu cán bộ có ở nhiều nơi. Số lượng công chức, viên chức tăng gấp đôi trong thời gian vừa qua. Do đó, chi chi tiêu thường xuyên cũng tăng nhanh liên tục. Từ 2011-2015, chi tiêu thường xuyên tăng lên gấp đôi, hiện nay là 65%, chi tiêu con người khoảng 52%.

- Cơ cấu giữa các ngành nghề, lĩnh vực chưa thật hợp lý; thiếu liên thông giữa các cấp, các ngành (xã, huyện, tỉnh; công và tư; khối Đảng và khối hành chính Nhà nước,...), tỷ lệ cán bộ trẻ, cán bộ nữ, … chưa đạt yêu cầu đề ra. Tỷ lệ cán bộ cấp chiến lược dưới 45 tuổi chiếm 7,18%; tỷ lệ cán bộ lãnh đạo diện ban thường vụ cấp tỉnh quản lý dưới 40 tuổi 1,81%; diện ban chấp hành quản lý là 7,85%. Cán bộ nữ NQ 11 đề ra là 25% nhưng ở TW từ cấp vụ trở lên là 17%, cấp tỉnh 12,28%; cấp huyện gần 10%. Cán bộ công chức, viên chức là người dân tộc thiểu số ở TW có 5%, cấp tỉnh là 14,7%, cán bộ người dân tộc thiểu số diện Trung ương quản lý công tác ở địa phương có xu hướng giảm (nhiệm kỳ 2010-2015 chiếm 33% đến 2015-2020 còn 27%).

- Độ tuổi bình quân của cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở một số ban, bộ, ngành, địa phương còn cao. Cán bộ diện Trung ương quản lý ở ban, bộ, ngành từ 56 tuổi trở lên chiếm 56,86%; diện ban thường vụ cấp tỉnh quản lý từ 51-55 chiếm gần 45%, từ 56 tuổi chiếm 23%, cấp tổng cục từ 51-55 chiếm gần 47%, từ 56 tuổi chiếm 32,78%.

- Thiếu những cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi, nhà khoa học và chuyên gia đầu ngành trên nhiều lĩnh vực, tỷ lệ cán bộ nghiên cứu khoa học trên tổng dân số thấp. Tính ở nước ta có 6,86 cán bộ nghiên cứu khoa học trên một vạn dân, trong khi đó: Hàn Quốc là 69; Singapor là 66,6; Nhật Bản là 53,9; Hoa Kỳ là 42,4; Nga là 31; Maylayxia là 20,5; Trung Quốc 11,1 và Thái Lan 9,7.

- Năng lực của đội ngũ cán bộ chưa đồng đều có mặt còn hạn chế, yếu kém, năng suất lao động, hiệu quả làm việc thấp. Theo thống kê năm 2016 thì năng suất lao động của Việt Nam tính theo thu nhập đầu người băng 7% Singapor, 17,6 % của Malaixia; 36,5% của Thái Lan; 42,3% Indonexia; 56,7% Philippin; 87,4% của Lào. Nhiều cán bộ, trong đó có cả cán bộ cấp cao thiếu tính chuyên nghiệp, làm việc không đúng chuyên môn, sở trường; trình độ ngoại ngữ, kỹ năng giao tiếp và khả năng làm việc trong môi trường quốc tế còn nhiều hạn chế. Không ít cán bộ trẻ thiếu bản lĩnh, ngại rèn luyện. Một số cán bộ lãnh đạo, quản lý, trong đó có cả cán bộ cấp chiến lược thiếu gương mẫu, uy tín thấp, năng lực, phẩm chất chưa ngang tầm nhiệm vụ, quan liêu, xa dân, cá nhân chủ nghĩa, vướng vào tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, lợi ích nhóm. Không ít cán bộ quản lý doanh nghiệp nhà nước thiếu tu dưỡng, rèn luyện, thiếu tính Đảng, lợi dụng sơ hở trong cơ chế, chính sách, pháp luật, cố ý làm trái, trục lợi, làm thất thoát vốn, tài sản của Nhà nước, gây hậu quả nghiêm trọng.

2. Về công tác cán bộ

2.1. Ưu điểm

- Công tác cán bộ đã bám sát các quan điểm, nguyên tắc của Đảng, ngày càng đi vào nền nếp. Đã ban hành nhiều nghị quyết, kết luận, chỉ thị và sửa đổi, bổ sung nhiều quy định, quy chế để tổ chức thực hiện. Đã ban hành 142 văn bản (7 nghị quyết, 52 quy định, quy chế, 7 chỉ thị, 18 kết luận, nhiều thông báo, hướng dẫn).

- Quy trình công tác cán bộ ngày càng chặt chẽ, đồng bộ, công khai, minh bạch, khoa học và dân chủ hơn.

- Công tác đào tạo, bồi dưỡng và cập nhật kiến thức mới được quan tâm, từng bước gắn với chức danh, với quy hoạch và sử dụng cán bộ.

- Chủ trương luân chuyển kết hợp với bố trí một số chức danh lãnh đạo không là người địa phương đạt được kết quả bước đầu. Giai đoạn 2001-2006 đạt 25%; 2006-2011 đạt 27%; 2011-2016 đạt trên 25%; đầu nhiệm kỳ đến nay đạt 23,8%. Đối với Bí thư cấp huyện thì 2010-2015 có 38,19%, 2015-2020 gầnn 50%. Đối với chủ tịch uỷ ban Nhân dân cấp tỉnh 28,6%; huyện 28%.

- Công tác kiểm tra, giám sát, bảo vệ chính trị nội bộ được quan tâm đạt kết quả; kỷ cương, kỷ luật được tăng cường. Việc xử lý kịp thời, nghiêm minh một số tổ chức, cá nhân vi phạm đã góp phần cảnh tỉnh, cảnh báo, răn đe và ngăn chặn tiêu cực, làm trong sạch một bước đội ngũ cán bộ, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước. 

2.2. Hạn chế, bất cập

- Một số quy định Trung ương chậm được cụ thể hoá, có những nội dung chưa sát với thực tế, thiếu tính đồng bộ, không khả thi, thiếu tính liên thông. Có nhiều nội dung thực hiện NQTW3 khoá VIII và Kết luận 37 ngày 02/02/2009 về tiếp tục đẩy mạnh Chiến lược cán bộ đến năm 2020 vẫn còn nhiều nội dung chưa cụ thể hoá được. Quy định về phân cấp, đánh giá cán bộ, đảng viên chưa thống nhất giữa Đảng và Nhà nước.

- Công tác cán bộ còn bất cập, đánh giá cán bộ vẫn là khâu yếu, chưa phản ánh đúng thực chất.

- Quy hoạch cán bộ thiếu tính tổng thể, liên thông giữa các cấp, các ngành, các địa phương; chưa bảo đảm phương châm "động" và "mở".

- Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chậm đổi mới nội dung, phương pháp, chưa kết hợp chặt chẽ giữa lý luận với thực tiễn, chưa gắn với quy hoạch và theo chức danh, bố trí không là người địa phương.

 - Tình trạng bổ nhiệm cán bộ không đủ tiêu chuẩn, điều kiện; trong đó có cả người nhà, người thân, không đúng tiêu chuẩn, gây bức xúc trong dư luận xã hội.

- Công tác tuyển dụng còn nhiều hạn chế, chất lượng chưa cao, chưa đồng đều, có nơi còn xảy ra sai phạm, tiêu cực.

- Chủ trương thu hút nhân tài chưa đạt yêu cầu. Phân cấp cán bộ chưa theo kịp tình hình. Một số chủ trương thí điểm chỉ đạo chưa quyết liệt, tổ chức thực hiện thiếu nhất quán, đồng bộ. Ví dụ đại hội đảng bộ cơ sở trực tiếp bầu ban thường vụ, bí thư, phó bí thư, sắp xếp kiêm nhiệm, tinh giản biên chế,...

- Viêc kiểm tra, giám sát thiếu chủ động, chưa thường xuyên; còn tập trung kiểm tra, xử lý vi phạm, thiếu giải pháp hiệu quả để phòng ngừa, ngăn chặn sai phạm. Công tác bảo vệ chính trị nội bộ còn thiếu chủ động, chưa theo kịp tình, tổ chức bộ máy thiếu ổn định (lúc ban, lúc tiểu ban, lúc vụ, lúc cục,…).

- Đội ngũ làm công tác tổ chức cán bộ chưa tương xứng với yêu càu, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy cơ quan tham mưu còn nhiều đầu mối, chức năng, nhiệm vụ chưa thật sự phù hợp (Ban tổ chức của cấp uỷ, cơ quan nội vụ của chính quyền, ban công tác đại biểu quốc hội đều có chức năng tham mưu công tác tổ chức, cán bộ). Phẩm chất, năng lực và uy tín của không ít cán bộ làm công tác tổ chức cán bộ chưa đáp ứng yêu cầu. Chậm sơ kết, tổng kết thực tiễn, nghiên cứu và phát triển lý luận về công tác cán bộ, quản lý cán bộ.

Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiều lần khẳng định đất nước ta có một cơ đồ như ngày nay đó là có sự đóng góp to lớn của toàn dân, toàn quân, của liên minh công nông và đội ngũ trí thức; trong đó có vai trò quan trọng của đội ngũ cán bộ. Hay nói cách khác sau hơn 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, đội ngũ cán bộ đã có sự trưởng thành, đóng góp to lớn vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; song những khuyết điểm, yếu kém của một bộ phận không nhỏ cán bộ và những hạn chế bất cập trong công tác cán bộ là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm cho đất nước ta phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh và mong muốn của Đảng ta, làm suy giảm niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.

2.3. Nguyên nhân hạn chế (Có 6 nguyên nhân chủ yếu):

- Nhận thức và ý thức trách nhiệm của một số cấp ủy, tổ chức đảng, lãnh đạo cơ quan, đơn vị và cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu về cán bộ và công tác cán bộ chưa thật sự đầy đủ, thiếu toàn diện.

- Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện một số nội dung nêu trong các nghị quyết, kết luận của Trung ương về công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ còn thiếu quyết liệt, chưa thường xuyên, nghiêm túc; chậm thể chế hóa, cụ thể hóa; ít kiểm tra đôn đốc và chưa có chế tài xử lý nghiêm. 

- Một số nội dung trong công tác cán bộ chậm được đổi mới. Chưa có cơ chế hiệu quả để đánh giá đúng cán bộ, tạo động lực, bảo vệ cán bộ và thu hút, trọng dụng nhân tài; chính sách cán bộ còn bất cập, chưa phát huy tốt tiềm năng của cán bộ. Công tác quản lý cán bộ có nơi, có lúc bị buông lỏng; chưa có cơ chế sàng lọc, thay thế kịp thời những người yếu kém, uy tín thấp.

- Phân công, phân cấp, phân quyền chưa gắn với ràng buộc trách nhiệm, với tăng cường kiểm tra, giám sát và chưa có cơ chế đủ mạnh để kiểm soát chặt chẽ quyền lực. Chưa có biện pháp hữu hiệu để kịp thời ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng chạy chức, chạy quyền và những tiêu cực trong công tác cán bộ. Công tác bảo vệ chính trị nội bộ chưa được đầu tư, quan tâm đúng mức. 

- Chưa phát huy đầy đủ vai trò giám sát của cơ quan dân cử; giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội; thiếu cơ chế phù hợp để cán bộ, đảng viên gắn bó mật thiết với nhân dân; các cơ quan truyền thông, báo chí chưa phát huy được vai trò, trách nhiệm, hiệu quả. 

- Chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan tham mưu về tổ chức, cán bộ còn chồng chéo, chậm đổi mới. Chưa quan tâm đúng mức xây dựng đội ngũ làm công tác cán bộ. Còn coi nhẹ công tác sơ kết, tổng kết thực tiễn, nghiên cứu khoa học, xây dựng và phát triển lý luận về cán bộ và công tác cán bộ. 

III. QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO VÀ MỤC TIÊU

Trong sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, chúng ta có nhiều cơ hội, nhưng cũng có không ít khó khăn, thách thức; đặc biệt là tình hình biển Đông diễn biến phức tạp, các vấn đề chính trị xã hội khác trong và ngoài nước có những tác động nhiều chiều đến công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ. 

1. Quan điểm (5 quan điểm cơ bản):

- Thứ nhất, cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng; công tác cán bộ là khâu "then chốt" của công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, là công việc hệ trọng của Đảng, phải được tiến hành thường xuyên, thận trọng, khoa học, chặt chẽ và hiệu quả. Đầu tư xây dựng đội ngũ cán bộ là đầu tư cho phát triển lâu dài, bền vững. 

Phải nhận thức rõ xây dựng đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ là việc khó, hệ trọng phức tạp nhảy cảm là công việc đối với con người không phải làm một lần là xong. Như Bác Hồ đã nói “vì sự nghiệp 10 năm trồng cây, vì sự nghiệp trăm năm trồng người”, cho thấy quan điểm, tư tưởng của Bác rất thận trọng đối với công tác cán bộ. Không chỉ là công tác nhân sự trước thềm đại hội mà phải tiến hành thường xuyên, liên tục.

- Thứ hai, thực hiện nghiêm, nhất quán nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo trực tiếp, toàn diện công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị. Chuẩn hoá, siết chặt kỷ luật, kỷ cương đi đôi với xây dựng thể chế, tạo môi trường, điều kiện để thúc đẩy đổi mới, phát huy sáng tạo và bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đột phá vì lợi ích chung. Phân công, phân cấp gắn với giao quyền, ràng buộc trách nhiệm, đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực và xử lý nghiêm minh sai phạm. 

- Thứ ba, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan, thường xuyên đổi mới công tác cán bộ phù hợp với tình hình thực tiễn. Xây dựng đội ngũ cán bộ phải xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ mới; thông qua hoạt động thực tiễn và phong trào cách mạng của Nhân dân; đặt trong tổng thể của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn với đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, kiện toàn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, nhất là thu hút, trọng dụng nhân tài. Khắc phục tình trạng duy ý chí, xây dựng cán bộ xuất phát từ thực tiễn, từ phong trào cách mạng của quần chúng sàng lọc, lựa chọn, để Nhân dân đóng góp xây dựng cán bộ. Đội ngũ cán bộ tốt phải dựa trên nền tảng nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực, bồi dưỡng, trọng dụng nhân tài. 

- Thứ tư, quán triệt nguyên tắc về quan hệ giữa đường lối chính trị và đường lối cán bộ; quan điểm giai cấp và chính sách đại đoàn kết rộng rãi trong công tác cán bộ. Xử lý hài hòa, hợp lý mối quan hệ giữa tiêu chuẩn và cơ cấu, trong đó tiêu chuẩn là chính; giữa xây và chống, trong đó xây là nhiệm vụ chiến lược, cơ bản, lâu dài, chống là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên; giữa đức và tài; giữa tính phổ biến và đặc thù; giữa kế thừa, đổi mới và ổn định, phát triển; giữa thẩm quyền, trách nhiệm cá nhân và tập thể. 

- Thứ năm, xây dựng đội ngũ cán bộ là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, trực tiếp là của các cấp ủy, tổ chức đảng mà trước hết là người đứng đầu và cơ quan tham mưu của Đảng, trong đó cơ quan tổ chức cán bộ là nòng cốt. Phát huy mạnh mẽ vai trò của Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và cơ quan truyền thông, báo chí trong công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ. Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó máu thịt với Nhân dân; phải thực sự dựa vào dân để xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị, xây dựng đội ngũ cán bộ.

5 quan điểm này khẳng định xây dựng đội ngũ cán bộ là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, đặc biệt là sự lãnh đạo của Đảng, khẳng định vai trò quan trọng của MTTQ, các tổ chức chính trị, cơ quan truyền thông, báo chí đặc biệt là Nhân dân. Đồng thời cũng thể hiện rõ tư tưởng dựa vào dân để xây dựng Đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ; tăng cường mối quan hệ mật thiết của Đảng với Nhân dân, khắc phục các biểu hiện quan liêu, xa dân. Các quan điểm này có mối quan hệ với nhau, vừa mang tính chất chỉ đạo vừa mang tính định hướng tiếp cận trong công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ phù hợp với tình hình hiện nay.

 3.2. Mục tiêu

  a. Mục tiêu tổng quát: Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược có phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; đủ về số lượng, có chất lượng và cơ cấu phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc; Xây dựng đội ngũ cán bộ bảo đảm sự chuyển tiếp liên tục, vững vàng giữa các thế hệ, đủ sức lãnh đạo đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2030 (kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng), tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước công nghiệp hiện đại theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, ngày càng phồn vinh, hạnh phúc.

b. Mục tiêu cụ thể

- Đến năm 2020:

(1) Thể chế hóa, cụ thể hóa Nghị quyết thành các quy định của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác cán bộ, xây dựng và quản lý đội ngũ cán bộ;

(2) Hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực; kiên quyết xóa bỏ tệ chạy chức, chạy quyền; ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong cán bộ, đảng viên;

(3) Đẩy mạnh thực hiện chủ trương bố trí bí thư tỉnh uỷ, huyện uỷ không là người địa phương;

(4) Hoàn thành việc xây dựng vị trí việc làm và rà soát, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ các cấp gắn với kiện toàn tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. 

Chúng ta đã xây dựng vị trí việc làm, qua theo dõi, cán bộ đông nhưng chưa mạnh, số người làm việc có chất lượng chưa nhiều, chưa cao; khi xây dựng vị trí việc làm lại tăng lên, đây là vấn đề cần có cơ sở khoa học, thận trọng. Khi sắp xếp được vị trí việc làm, tinh giản biên chế theo NQ 39 của Bộ Chính trị rồi, cần cơ cấu lại đội ngũ công chức, viên chức cho phù hợp.       

- Đến năm 2025:

(1) Tiếp tục hoàn thiện, chuẩn hóa, đồng bộ các quy định, quy chế, quy trình về công tác cán bộ;

(2) Cơ bản bố trí bí thư tỉnh uỷ không là người địa phương và hoàn thành ở cấp huyện; đồng thời khuyến khích thực hiện đối với các chức danh khác;

(3) Xây dựng được đội ngũ cán bộ các cấp đáp ứng tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm và khung năng lực theo quy định. Đến năm 2020 thì xây dựng được vị trí việc làm, 2025 xây dựng được đội ngũ cán bộ các cấp đáp ứng tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm và khung năng lực theo quy định.

- Đến năm 2030:

(1) Xây dựng được đội ngũ cán bộ các cấp chuyên nghiệp, có chất lượng cao, có số lượng, cơ cấu hợp lý, bảo đảm sự chuyển giao thế hệ một cách vững vàng;

 (2) Cơ bản xây dựng được đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhất là cấp chiến lược ngang tầm nhiệm vụ. Cụ thể là: 

+ Đối với cán bộ cấp chiến lược: Thực sự tiêu biểu về chính trị, tư tưởng, phẩm chất, năng lực và uy tín; trên 15% dưới 45 tuổi; từ 40 - 50% đủ khả năng làm việc trong môi trường quốc tế (đối với quân đội, công an có quy định riêng của Bộ Chính trị). 

Đây là điểm mới, vị thế đất nước ta trên trường quốc tế ngày càng nâng lên, là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Trong Nghị quyết Đại hội XII Đảng ta cũng xác định chủ động, tích cực hội nhập sâu rộng trong lĩnh vực kinh tế, quân sự (gìn giữ hoà bình các nơi), tư pháp (toà án quốc tế, trọng tài quốc tế). Chúng ta có đội ngũ cán bộ năng lực chuyên môn có thể đáp ứng được, nhưng về ngoại ngữ, sử dụng thành thạo máy tính, có kiến thức, kỹ năng chuyên môn, hiểu biết luật quốc tế, có khả năng làm việc độc lập theo nhóm còn hạn chế,….

IV. NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP CHỦ YẾU 

1. Nâng cao nhận thức, tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên (02 nội dung)

- Quán triệt sâu sắc, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; quán triệt và thực hiện nghiêm Cương lĩnh, Điều lệ, nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về công tác cán bộ, xây dựng và quản lý đội ngũ cán bộ; kiên quyết đấu tranh với các luận điệu xuyên tạc; mở rộng các hình thức tuyên truyền, nhân rộng những mô hình, điển hình tiêu biểu, những cách làm sáng tạo, hiệu quả.

- Tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và thế hệ trẻ, trong đó chú trọng nội dung xây dựng Đảng về đạo đức, truyền thống lịch sử, văn hóa của dân tộc (xây dựng Đảng về đạo đức là 1 trong 10 nhiệm vụ mới NQĐH XII đề ra); kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa đào tạo với rèn luyện trong thực tiễn; đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Thực hiện nghiêm túc chế độ học tập, bồi dưỡng lý luận chính trị và cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, nhất là cán bộ trẻ được đào tạo ở nước ngoài. 

2. Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác cán bộ (Với 16 nội dung cơ bản)

- ND 1, Các cấp uỷ và tổ chức đảng căn cứ chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của mình thể chế hóa, cụ thể hóa các chủ trương, đường lối của Đảng về công tác cán bộ theo hướng đồng bộ, liên thông, nhất quán trong hệ thống chính trị và phù hợp với thực tế.

- ND 2, Đổi mới công tác đánh giá cán bộ theo hướng xuyên suốt, liên tục, đa chiều, theo tiêu chí cụ thể, bằng sản phẩm, thông qua khảo sát, công khai kết quả và so sánh với chức danh tương đương; gắn đánh giá cá nhân với tập thể và kết quả thực hiện nhiệm vụ của địa phương, cơ quan, đơn vị. 

Đánh giá xuyên suốt là đánh giá cả quá trình của cán bộ, tổng thể, đánh giá liên tục, định kỳ 6 tháng, năm tuỳ theo đối tượng (vụ quý, phòng tuần, ...); đánh giá đa chiều (cấp trên đánh giá cấp dưới, ngang cấp đánh giá, cấp dưới đánh giá cấp trên); đánh giá bằng tiêu chí tư tưởng, đạo đức, lối sống, ý thức tổ chức kỷ luật, tác phong lề lối làm việc, kết quả thực hiện chức trách nhiệm vụ được giao theo vị trí việc làm và chiều hướng phát triển của cán bộ; đánh giá bằng sản phẩm và lượng hoá kết quả làm được của cán bộ; đánh giá thông qua lấy phiếu tín nhiệm; khảo sát trước. 

- ND 3, Thống nhất việc kiểm định chất lượng đầu vào công chức để các địa phương, cơ quan, đơn vị lựa chọn, tuyển dụng theo yêu cầu, nhiệm vụ; đồng thời, nghiên cứu phân cấp kiểm định theo lĩnh vực đặc thù và theo vùng, khu vực. 

- ND 4, Xây dựng Chương trình quốc gia về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và học tập ngoại ngữ. 

- ND 5, Gắn quy hoạch với đào tạo, bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh; thực hiện luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị để rèn luyện qua thực tiễn ở các lĩnh vực, địa bàn khác nhau.

Cán bộ phải vừa có kiến thức chuyên môn, các kiến thức khác, đặc biệt là rèn luyện bản lĩnh chính trị, nhân sinh quan cách mạng thông qua hoạt động thực tiễn, nhất là qua luân chuyển, thử thách ở những địa bàn khó khăn, phức tạp để đào tào, bồi dưỡng cán bộ.

- ND 6: Thực hiện việc bố trí bí thư tỉnh uỷ, bí thư huyện uỷ không là người địa phương theo mục tiêu đề ra; khuyến khích thực hiện đối với các chức danh khác, nhất là chức danh chủ tịch ủy ban nhân dân, nếu có điều kiện.

 Trước đây chúng ta đưa ra 9 chức danh không phải là người địa phương, nhưng hiệu quả chưa cao. Chủ trương luân chuyển bí thư là từ khoá IX theo NQ 11 của Bộ Chính trị cho đến nhiệm kỳ này chúng ta tiếp tục luân chuyển 16 đồng chí bí thư tỉnh uỷ, thành uỷ không là người địa phương và 31 tỉnh, thành phố luân chuyển trên 50% bí thư cấp huyện không là người địa phương. Tuy nhiên việc thực hiện chưa đạt yêu cầu đề ra, nên NQ lần này tập trung thực hiện chức danh bí thư tỉnh uỷ, huyện uỷ không là người địa phương.

- ND 7, có chính sách ưu đãi để phát hiện, thu hút, trọng dụng nhân tài, nhất là các ngành, lĩnh vực mũi nhọn phục vụ cho phát triển nhanh, bền vững. Xây dựng Chiến lược quốc gia về nhân tài theo hướng không phân biệt đảng viên hay người ngoài Đảng, người Việt Nam ở trong nước hay ở nước ngoài.

 - ND 8, hoàn thiện các quy định, quy chế để cấp ủy các cấp có cơ cấu hợp lý, tinh giản số lượng và nâng cao chất lượng, không nhất thiết địa phương, cơ quan, đơn vị nào cũng phải có cấp uỷ viên. 

- ND 9, thực hiện nghiêm việc lựa chọn, bầu cử có số dư; ứng viên trước khi bổ nhiệm phải trình bày chương trình hành động và cam kết thực hiện. Cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp trên phải kinh qua vị trí chủ chốt cấp dưới; trường hợp đặc biệt do cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định. Nhân sự không trúng cử cấp ủy cấp dưới thì không giới thiệu để bầu cấp uỷ cấp trên

- ND 10, để đảm bảo cơ cấu cán bộ trẻ, cán bộ nữ, NQ lần này đề ra 4 cơ chế cụ thể;

1) Tạo điều kiên, cơ hội để cán bộ nữ, cán bộ trẻ, cán bộ là người dân tộc có điều kiện sắp xếp bố trí thế nào để có cơ cấu.

2) Xây dựng chỉ tiêu cơ cấu phù hợp.

3) Chưa bố trí được thì để trống.

4) Nếu không hoàn thành chỉ tiêu thì trách nhiệm của cấp uỷ, người đứng đầu thế nào?    

- ND 11, quy định trách nhiệm của lãnh đạo và cấp ủy viên các cấp trong việc tiến cử người có đức, có tài; người đứng đầu có trách nhiệm đào tạo, bồi dưỡng, tiến cử người thay thế mình. Có cơ chế phát hiện, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí cán bộ có bản lĩnh, năng lực nổi trội và triển vọng phát triển vào vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả vượt cấp, nhất là cán bộ trẻ. Phù hợp với chỉ đạo Ban Bí thư là thực hiện thí điểm thi tuyển, bổ nhiệm vượt cấp.

- ND 12, xây dựng quy định để việc nhận trách nhiệm, từ chức, từ nhiệm trở thành nếp văn hóa ứng xử của cán bộ; hoàn thiện các quy định về cách chức, bãi nhiệm, miễn nhiệm để việc "có lên, có xuống", "có vào, có ra" trở thành bình thường trong công tác cán bộ. 

- ND 13, xây dựng chính sách nhà ở theo hướng nhà nước thống nhất ban hành cơ chế, chính sách; địa phương quy hoạch đất ở, nhà ở; cán bộ, công chức, viên chức mua và thuê mua.

Có những chính sách theo hướng trước năm 1992 là do Nhà nước lo hết, sau năm 1992 ta tích hợp vào lương, cả 2 chính sách này thì chưa đạt hiệu quả. Chúng ta cũng mới có chính sách nhà ở cho người nghèo. Lần này ban hành sao cho Nhà nước lo cơ chế, chính sách, các địa phương lo quy hoạch, đất ở nhà ở sao cho phù hợp, chính sách xã hội sao cho công bằng hợp lý.

- ND 14, xây dựng quy định về thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu trong công tác cán bộ và quản lý cán bộ; xử lý nghiêm những người có sai phạm, kể cả khi đã chuyển công tác hoặc nghỉ hưu. 

- ND 15, tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ, tập trung vào vấn đề chính trị hiện nay, không xem xét quy hoạch, bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử khi chưa có kết luận về tiêu chuẩn chính trị. 

- ND 16, mở rộng việc thi tuyển để bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp vụ, sở, phòng, đồng thời thực hiện các thí điểm, nhất là người đứng đầu lựa chọn, giới thiệu cán bộ trong quy hoạch để thực hiện quy trình bầu cử, bổ nhiệm cấp phó của mình; bí thư cấp uỷ giới thiệu để bầu ủy viên ban thường vụ theo một quy trình nhất định, đảm bảo nguyên tắc tập trung dân chủ và phải chịu trách nhiệm về việc giới thiệu của mình. Giao quyền cho người đứng đầu bổ nhiệm cán bộ trong quy hoạch, miễn nhiệm đối với cấp trưởng cấp dưới trực tiếp và chịu trách nhiệm về quyết định của mình. 

3. Xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp có phẩm chất, năng lực, uy tín, đáp ứng yêu cầu trong thời kỳ mới (Có 6 nội dung chủ yếu):

- Một là, coi trọng trang bị kiến thức về công tác cán bộ cho lãnh đạo các cấp. Tập trung nâng cao chất lượng bí thư cấp ủy, người đứng đầu các cấp và đội ngũ cán bộ cấp cơ sở. 

- Hai là, hoàn thiện cơ chế, đẩy mạnh thu hút, tạo nguồn cán bộ từ sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, cán bộ khoa học trẻ có triển vọng và đặc biệt quan tâm đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện lớp cán bộ kế cận. Chủ động nắm, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện đối với sinh viên tốt nghiệp loại giỏi, xuất sắc ở trong nước và nước ngoài. 

- Ba là, khẩn trương cơ cấu, sắp xếp lại đội ngũ cán bộ các cấp, các ngành theo vị trí việc làm, khung năng lực, bảo đảm đúng người, đúng việc, giảm số lượng, nâng cao chất lượng, hợp lý về cơ cấu. Nghị quyết 39 đã nói, NQ 18 của TW 6 chúng ta cũng đã đề cập đến vấn đề này.

- Bốn là, nghiên cứu thực hiện cơ chế, chính sách liên thông; liên thông giữa cán bộ, công chức cấp xã với cán bộ, công chức nói chung, giữa nguồn nhân lực ở khu vực công và khu vực tư; có cơ chế cạnh tranh vị trí việc làm để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và tiến tới bỏ chế độ "biên chế suốt đời". 

- Năm là, Quản lý chặt chẽ, hiệu quả đội ngũ cán bộ các cấp theo hướng:

+ Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ.

+ Địa phương, cơ quan, đơn vị phải thực hiện nghiêm việc quản lý cán bộ theo quy định của cấp có thẩm quyền.

+ Cơ quan sử dụng cán bộ phải quản lý cán bộ chặt chẽ, hiệu quả.

+ Người đứng đầu chịu trách nhiệm chính về quản lý cán bộ theo phân cấp.

+ Bản thân cán bộ thực hiện nghiêm các quy định, quy chế, cam kết của mình; báo cáo, giải trình trung thực và chịu trách nhiệm khi có yêu cầu. 

- Sáu là, kiểm soát chặt chẽ, sàng lọc kỹ càng, thay thế kịp thời những người năng lực hạn chế, uy tín thấp, không đủ sức khoẻ, có sai phạm, không chờ hết nhiệm kỳ, hết thời hạn bổ nhiệm, đến tuổi nghỉ hưu. Không lấy việc bố trí chức vụ, phong hàm, phong, thăng quân hàm, nâng ngạch để thực hiện chế độ, chính sách cán bộ (Liên quan đến vấn đề sức khoẻ, Ban Bí thư cũng đã ban hành Quy định 121 về trách nhiệm khám sức khoẻ định kỳ).

4. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược ngang tầm nhiệm vụ (Có 8 nội dung chủ yếu):

- Một là, phát hiện, lựa chọn từ nguồn quy hoạch những cán bộ tiêu biểu, xuất sắc đã được đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện theo chức danh, nhất là những người đã được thử thách qua thực tiễn, có thành tích nổi trội, có "sản phẩm" cụ thể, có triển vọng phát triển. 

- Hai là, bổ sung kiến thức, nâng cao trình độ mọi mặt; bồi dưỡng toàn diện về kỹ năng, khoa học; định kỳ cập nhật kiến thức mới theo từng nhóm đối tượng. 

- Ba là, xây dựng kế hoạch cụ thể để luân chuyển, điều động giữ vị trí cấp trưởng, phù hợp với chức danh quy hoạch ở địa bàn khó khăn, lĩnh vực trọng yếu, nơi triển khai mô hình mới để thử thách, rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị, nhân sinh quan cách mạng, năng lực lãnh đạo toàn diện của cán bộ. 

- Bốn là, tổ chức các lớp dự nguồn cán bộ cao cấp để chuẩn bị tốt nguồn nhân sự cho các chức danh cấp chiến lược, nhất là nhân sự Ban Chấp hành Trung ương, các nhân sự chủ chốt của ban ngành Trung ương (vừa qua đã tổ chức cập nhật kiến thức cho các uỷ viên dự khuyết TW).

- Năm là, đánh giá chính xác nhân sự được quy hoạch, giới thiệu bầu cử, bổ nhiệm vào các chức danh cấp chiến lược. Kiên quyết không để lọt những người không xứng đáng, những người chạy chức, chạy quyền vào đội ngũ cán bộ cấp chiến lược. 

- Sáu là, định kỳ rà soát, bổ sung quy hoạch nhân sự Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các chức danh lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội cho các nhiệm kỳ. 

- Bảy là, tập trung xây dựng Ban Chấp hành Trung ương theo hướng nâng cao chất lượng, có số lượng và cơ cấu hợp lý, thực sự tiêu biểu về đạo đức cách mạng, bản lĩnh chính trị, trí tuệ, trong sáng, gương mẫu về mọi mặt. Chủ động chuẩn bị nhân sự, xây dựng "hình ảnh" các chức danh lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước, các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư. 

- Tám là, xây dựng tiêu chuẩn và có kế hoạch, biện pháp đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện, thử thách đối với ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng theo hướng chỉ lựa chọn cán bộ trẻ, thật sự ưu tú và có cơ cấu hợp lý giữa Trung ương với địa phương, giữa các ngành nghề, lĩnh vực trong hệ thống chính trị. 

5. Kiểm soát chặt chẽ quyền lực trong công tác cán bộ; chống chạy chức, chạy quyền ( 5 nội dung chủ yếu):

- Một là, xây dựng, hoàn thiện thể chế để kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ theo nguyên tắc mọi quyền lực đều phải được kiểm soát chặt chẽ bằng cơ chế; quyền hạn, phải được ràng buộc bằng trách nhiệm. 

- Hai là, thực hiện công khai, minh bạch tiêu chuẩn, quy trình, thủ tục và hồ sơ nhân sự; cung cấp, trao đổi thông tin và giải trình khi có yêu cầu. Xác minh, xử lý kịp thời, hiệu quả, hợp lý thông tin phản ảnh từ các tổ chức, cá nhân và phương tiện thông tin đại chúng. 

- Ba là, đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra định kỳ, đột xuất; theo chuyên đề, chuyên ngành; của cấp trên đối với cấp dưới; cấp dưới giám sát cấp trên. Coi trọng cả cảnh báo, phòng ngừa và xử lý sai phạm. 

- Bốn là, xử lý kịp thời, nghiêm minh những tổ chức, cá nhân vi phạm kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước; lợi dụng quyền lực để thực hiện những hành vi sai trái trong công tác cán bộ hoặc tiếp tay cho chạy chức, chạy quyền. Hủy bỏ, thu hồi các quyết định không đúng về công tác cán bộ, đồng thời xử lý nghiêm những tổ chức, cá nhân sai phạm, không có "vùng cấm".

- Năm là, nhận thức sự nghiêm trọng tệ chạy chức, chạy quyền, coi đây là hành vi tham nhũng trong công tác cán bộ. Nhận diện rõ, đấu tranh quyết liệt, hiệu quả với các đối tượng có biểu hiện, hành vi chạy chức, chạy quyền. Coi trọng giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao ý thức trách nhiệm, lòng tự trọng và danh dự của cán bộ để hình thành văn hoá không chạy chức, chạy quyền.

6. Phát huy vai trò của Nhân dân tham gia xây dựng đội ngũ cán bộ (Có 5 nội dung cơ bản):

- Một là, thể chế hóa, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện có hiệu quả các quy định của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về công tác giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và Nhân dân tham gia xây dựng đội ngũ cán bộ.

Nhiệm kỳ trước đã có nhiều chủ trương của Bộ Chính trị, Ban Bí thư như QĐ 27, 28, QĐ 99, QĐ 124 ,...nhưng thể chế hoá, cụ thể hoá chưa đẩy mạnh, hiệu quả chưa cao.

- Hai là, thường trực cấp ủy các cấp ở địa phương định kỳ tiếp dân; bí thư, phó bí thư, ủy viên ban thường vụ và cấp ủy viên dự sinh hoạt với chi bộ khu dân cư; đảng viên công tác tại xã, phường, thị trấn sinh hoạt đảng tại chi bộ khu dân cư.

- Ba là, thực hiện việc phân công cán bộ, đảng viên phụ trách hộ gia đình nơi cư trú với các hình thức phù hợp để gắn bó mật thiết với nhân dân; truyền đạt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến với Nhân dân và lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của nhân dân; nắm chắc tình hình cơ sở; đồng thời, qua đó để Nhân dân thực hiện việc giám sát cán bộ, đảng viên, nhất là về đạo đức, lối sống.

Đây là điểm mới, hiện nay có khoảng 25 triệu hộ gia đình, hơn 5 triệu đảng viên, phân công thì 1 đảng viên phụ trách 5 hộ gia đình. 

- Bốn là, cụ thể hóa và thực hiện có hiệu quả cơ chế dân biết, dân bàn, dân làm, dân giám sát trong công tác cán bộ, xây dựng và quản lý đội ngũ cán bộ. 

- Năm là, nghiên cứu mở rộng các hình thức lấy ý kiến đánh giá sự hài lòng của người dân đối với từng đối tượng cán bộ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị một cách phù hợp.

7. Nâng cao chất lượng công tác tham mưu, coi trọng tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận về công tác tổ chức, cán bộ (Có 5 nội dung cơ bản):

- Một, thường xuyên chăm lo xây dựng, củng cố cơ quan tham mưu và đội ngũ làm công tác cán bộ thật sự trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp; đặc biệt coi trọng lựa chọn, bố trí đúng người đứng đầu cơ quan làm công tác tổ chức, cán bộ các cấp. 

- Hai, nâng cao nhận thức, chất lượng công tác tham mưu, phối hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa các cơ quan tham mưu trong công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ theo chức năng, nhiệm vụ của mình.

- Ba, xây dựng mô hình tổ chức, hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan tham mưu theo hướng rà soát giảm đầu mối, tránh chồng chéo, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động; bảo đảm nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo và quản lý tổ chức, biên chế, công tác cán bộ, xây dựng và quản lý đội ngũ cán bộ trong toàn bộ hệ thống chính trị.

- Bốn, tăng cường giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện để nâng cao chất lượng đội ngũ làm công tác cán bộ "trung thành, trung thực, gương mẫu, trong sáng, tinh thông" đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ mới. Nghiêm trị các hành vi tiêu cực, nhất là việc tiếp tay cho chạy chức, chạy quyền. Coi trọng và tăng cường công tác kiểm tra, giám sát công tác cán bộ ở các cấp, các ngành; kiểm soát chặt chẽ việc thực hiện quy trình công tác cán bộ.

Kiểm tra chuyên ngành về công tác cán bộ chúng ta chưa được đẩy mạnh. Nhắc nhở các cơ quan chức năng tăng cường kiểm tra chuyên ngành. Quy trình công tác cán bộ sao cho nhanh cho gọn nhưng phải kiểm soát được.

- Năm, kịp thời sơ kết, tổng kết các chỉ thị, nghị quyết, quy định, quy chế và những chủ trương thí điểm, mô hình mới, cách làm hay, sáng tạo, hiệu quả; nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học, xây dựng và phát triển lý luận về công tác tổ chức, cán bộ. 

8. Một số nội dung cơ bản về công tác nhân sự đại hội đảng bộ các cấp và Đại hội Đảng toàn quốc (Có 4 nội dung cơ bản):

- Một, cụ thể hoá, hoàn thiện các văn bản đại hội Đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội toàn quốc nhất là phương hướng công tác nhân sự. 

Chúng ta đang tổng kết Chỉ thị 36 trên cơ sở đó đề xuất Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị mới và các công việc khác cần làm.

- Hai, rà soát kỹ, bổ sung đầy đủ thông tin, đánh giá chính xác, nắm chắc vấn đề chính trị của cán bộ; tăng cường thực hiện việc bố trí, sắp xếp, điều động, luân chuyển, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ và phải có các phương án phù hợp hiệu quả thực hiện việc bố trí Bí thư cấp tỉnh, cấp huyện không là người địa phương theo mục tiêu đề ra.

 - Ba, tổ chức các lớp cán bộ dự nguồn trong quy hoạch ở các cấp để bổ sung, nâng cao kiến thức, hoàn thiện kỹ năng lãnh đạo, quản lý, phù hợp với từng nhóm đối tượng nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân sự đại hội đảng bộ các cấp và Đại hội Đảng toàn quốc. 

- Bốn, Ban Thường vụ cấp ủy từng cấp căn cứ tình hình cụ thể để sử dụng các cơ quan chuyên môn một cách phù hợp trong việc tiến hành khảo sát, đánh giá nhân sự theo phân cấp, chủ động chuẩn bị nhân sự đại hội và các công việc cần thiết khác có liên quan. 

Thực hiện 08 nhiệm vụ, giải pháp nêu trên cần tập trung vào hai trọng tâm và năm đột phá: 

- Hai trọng tâm là:

(1) Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, toàn diện, đồng bộ, hiệu quả công tác cán bộ; chuẩn hoá, siết chặt kỷ luật, kỷ cương đi đôi với tạo môi trường, điều kiện để thúc đẩy đổi mới, sáng tạo phục vụ phát triển và có cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung;

 (2) Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược và bí thư cấp uỷ, người đứng đầu các cấp đi đôi với phân cấp, phân quyền nhằm phát huy tính chủ động, sáng tạo của cán bộ và tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát chặt chẽ quyền lực. 

- Năm đột phá là:

 (1) Đổi mới công tác đánh giá cán bộ theo hướng xuyên suốt, liên tục, đa chiều, theo tiêu chí, bằng sản phẩm, thông qua khảo sát, công khai kết quả và so sánh với chức danh;

(2) Kiểm soát chặt chẽ quyền lực, sàng lọc kỹ càng, thay thế kịp thời những người năng lực kém, uy tín thấp có sai phạm; chấm dứt tình trạng chạy chức, chạy quyền;

(3) Thực hiện nhất quán chủ trương bố trí bí thư cấp uỷ cấp tỉnh, cấp huyện không là người địa phương ở những nơi đủ điều kiện;

 (4) Cải cách chính sách tiền lương và nhà ở để tạo động lực cho cán bộ phấn đấu, toàn tâm, toàn ý với công việc; có cơ chế, chính sách để tạo cạnh tranh lành mạnh và thu hút, trọng dụng nhân tài có trọng tâm, trọng điểm;

(5) Hoàn thiện cơ chế để cán bộ, đảng viên thật sự gắn bó mật thiết với Nhân dân và phát huy vai trò của Nhân dân tham gia xây dựng đội ngũ cán bộ. 

V. VỀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN 

Một là, về triển khai quán triệt NQ: Các cấp uỷ lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức học tập, quán triệt và viết thu hoạch nghiêm túc; chú trọng công tác giáo dục chính trị tư tưởng để cán bộ đảng viên nhận thức rõ thực trạng cán bộ và đội ngũ cán bộ hiện nay, tạo sự thống nhất cao trong triển khai thực hiện.

Hai là, về cụ thể hoá thực hiện NQ: các cấp uỷ tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện tạo sự chuyển biến rõ nét công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, các địa phương, cơ quan, đơn vị mình. Xây dựng chương trình, kế hoạch, đề án thực hiện NQ của cấp, ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị phải sát tình hình thực tiễn đơn vị, địa phương; xác định rõ trách nhiệm, phân công nhiệm vụ, thời hạn hoàn thành đối với từng cá nhân, tránh hình thức.

Lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện với quyết tâm cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt, hiệu quả; tăng cường kiểm tra, giám sát và báo cáo kết quả thực hiện để kiểm soát nội dung và tiến độ thực hiện./.

 


Văn bản Văn bản

VĂN BẢN MỚI
  SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA NGHỊ ĐỊNH SỐ 56/2015/NĐ-CP NGÀY 09 THÁNG 6 NĂM 2015 CỦA CHÍNH PHỦ VỀ ĐÁNH GIÁ VÀ PHÂN LOẠI CÁN BỘ, CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC
  Văn kiện đại hội phụ nữ tỉnh lần thứ IX
  QUYẾT ĐỊNH BAN HÀNH QUY ĐỊNH VỀ VIỆC MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM, CÁC ĐOÀN THỂ CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI VÀ NHÂN DÂN THAM GIA GÓP Ý XÂY DỰNG ĐẢNG, XÂY DỰNG CHÍNH QUYỀN
  QUYẾT ĐỊNH VỀ VIỆC BAN HÀNH QUY CHẾ GIÁM SÁT VÀ PHẢN BIỆN XÃ HỘI CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM VÀ CÁC ĐOÀN THỂ CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI

Các tin khác Các tin khác

Liên kết Liên kết

Thống kê Thống kê

  Đang truy cập : 11
  Hôm nay: 33
  Tổng lượt truy cập: 61403